- (Trích đoạn 1): ..... "Tôi cảm thấy phức tạp vì từ trong thâm tâm, tôi có những vấn đề mà bản thân chưa hiểu nổi. Người Pháp có 1 câu thành ngữ mà tôi cho lả hết sức đúng: "Cái gì mà mình quan niệm được thì mình nói ra thông suốt" (Ce que l’on conçoit bien, s’énonce clairement).
Bây giờ trong cuộc chiến VN, có nhiều vấn đề mình không quan niệm được. Người Mỹ đem nửa triệu quân tham chiến ở VN, chi bao nhiêu tỷ đô la, chết hàng mấy chuc ngàn quân sĩ... để chỉ thực hiện sách lược "đánh không cần thắng" (no win concept). Sách lược "đánh không cần thắng" đó, chính Bộ Trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara, ông trùm của Pentagon nói ra, các nhà quân sự Mỹ cứ thế mà thi hành.
Theo sự suy luận nhỏ hẹp của tôi, đánh mà không cần thắng thì đánh làm gì? Như vậy thì sự tham chiến ở VN tự thân không phải là 1 cuộc chiến theo nghĩa thông thường nữa mà nó là 1 phương tiện,
1 cơ hội để Mỹ "chơi" 1 nước cờ nào đó cao hơn, rộng hơn trên bàn cờ quốc tế. Nước cờ ấy là nước cờ gì? Biến diễn ra sao? Năm 1969, tôi chỉ mơ hồ nhận ra như thế mà không khái quát hóa nó ra được. Tôi có cảm tưởng rằng Mỹ không có ý đánh thắng Công Sản Bắc Việt - có khi còn "nuôi" Bắc Việt là đằng khác. Nếu không có CS Bắc Việt, lấy gì cản ngăn bước chân xâm lăng bành trướng của Trung Cộng xuống Đông Nam Á bây giờ đây. Cái đáng lo của Mỹ là Trung Cộng, không phải là CS Bắc Việt. Mỹ cũng biết Trung Cộng và CS Bắc Việt là đồng chí, là anh em, nhưng trên thực tế đó là anh em thù địch (frère ennemis). Phải làm sao cho tính cách thù địch kia càng ngày càng lớn lên thì Mỹ mới dành được cái thế "ngư ông" trong cảnh trai, cò giằng xé. Trong chiều hướng như vậy thì trên nguyên tắc CS Bắc Việt là đối thủ của Mỹ, nhưng trên thực tế về lâu về dài, CS Bắc Việt là đồng minh của Hoa Kỳ. Còn miền Nam VN, trên nguyên tắc là đồng minh của Hoa Kỳ, nhưng trên thực tế chỉ là 1 con cờ chiến thuật trong 1 thời gian, không gian nào đó. "Bỏ con săn sắt, bắt con cá rô" - hoặc là hy sinh 1 yếu tố chiến thuật để đạt 1 mục tiêu chiến lược, đó là điều thường xảy ra trong binh pháp.
Ở VN trong những năm quân Mỹ kéo sang, có bao nhiêu sự việc xảy ra trên các địa hạt quân sự, chính trị, xã hội... việc nọ chưa xong lại tiếp diễn việc kia, khiến người miền Nam thấy ngổn ngang trăm mối như lạc vào 1 khu rừng rậm, "chỉ thấy cây không thấy rừng". Bình tâm nghĩ lại thấy có những sự viêc không làm sao giải thích được. Về phương diện quân sự, ai cũng phải công nhận sự tinh vi nhậy bén của hệ thông tình báo, điệp báo Hoa Kỳ, cũng như dụng cụ do thám của Mỹ cũng được coi là tối tân hiện đại nhất. Tại sao trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân, CS Bắc Việt đưa vô hàng bao nhiêu sư đoàn, tập trung bao nhiêu là quân lương vũ khí mà Hoa Kỳ không mảy may hay biết là cớ làm sao? Tình báo quân đội miền Nam yếu kém, điều đó cứ chấp nhận như vậy đi, nhưng hệ thống tin tức của Hoa Kỳ nổi danh là cái kim sợi chỉ, con sâu cái kiến cũng có thoát khỏi mắt thần điện tử thì tại sao lại xảy ra cuộc tấn công đột ngột dường kia? Nhưng kỳ lạ hơn là bắt đầu cuộc tấn công của CS, các thành phố, các thị trấn quân CS đều tràn ngập, nhưng quân đội Mỹ trong những ngày đầu của cuộc tấn công Tết Mậu Thân, đều án binh bất động, coi như không nghe, không biết, không can dự vào cuộc chiến này. May mà quân lực miền Nam sau cơn choáng váng ban đầu, gượng lại được nên mới dần dần nắm vững tình thế, đẩy lui và tiêu diệt VC trên khắp các chiến trường. Cũng nhờ hành động "bỏ phiếu bằng chân" của đa số đồng bào miền Nam, khi chiến sự lan tràn, lũ lượt kéo nhau về vùng đất Quốc gia nên VC không còn chốn nương thân và cũng không tìm ra lương thực. Chỉ sau khi miền Nam đã đứng vững, cuộc tấn công của VC đã gần tàn, quân đội Mỹ mới tiếp tay cùng quân lực miền Nam tảo thanh cú chót những cứ điểm còn lại của VC (đặc biệt ở Huế và ở cổ thành Quảng Trị). Cho đến nay, trên khía cạnh quân sự, cuộc tấn công Tết Mậu Thân của VC vẫn còn được che phủ bởi bức màn khói của hồ nghi đầy huyền hoặc.
Trên phương diện chính trị, người Mỹ, quân đội Mỹ tới miên Nam để bảo vệ "tiền đồ của Thế Giới Tự do". Nhưng từ khi quân đội Mỹ kéo sang (1964) thì chưa bao giờ nên chính trị miên Nam lại nát đến thế. Miền Nam có tư cách 1 quốc gia chủ quyền là thời Đệ Nhất Cộng Hòa thời anh em ông Ngô Đình Diệm nắm quyền. Người Mỹ muốn đem quân vô miền Nam, anh em ông Diệm không đồng ý, chỉ yêu cầu Mỹ giúp vũ khí, giúp trang bị và giúp ngân sách... không muốn nhờ người Mỹ đích thân sang miền Nam đánh hộ. Phó tổng thống Mỹ L. Johnson năm 1961 sang miền Nam yêu cầu làm việc này, nhưng anh em ông Diệm quyết giữ vững lập trường, vì nếu quân đội Mỹ hiện diện ở VN, sẽ khó ăn khó nói biết bao nhiêu đối với quốc dân và quốc tế. Nhưng như mọi người đã biết, ít có nước nào, người nào cưỡng được ý muốn của Hoa Kỳ. Người ta thường nói người Mỹ vụng về, người Mỹ ngây thơ, nhưng bản thân tôi, tôi lại thấy người Mỹ rất tài tình, rất thực dụng và đặc biệt rất quyết liệt trong việc thực hiện đường đi nước bước của họ. Anh em ông Ngô Đình Diệm ngăn cản ý đồ của Mỹ ở miền Nam thì anh em ông Diệm bị triệt tiêu đi, chủ quyền miền Nam cũng mất theo. Các chính phủ sau Đệ Nhất Cộng Hòa ở miền Nam, ít hay nhiều, rộng hay hẹp, đều nằm trong bàn tay thao túng của Hoa Kỳ, Mỹ đem sang bao nhiêu quân, chính phủ miền Nam không được hỏi ý kiến. Giả thử một mai đây, người Mỹ có rút quân về thì miền Nam cũng không có khả năng gì ngăn cản được.
Những ý kiến ấy, những câu hỏi cứ dồn dập hiện ra trong đầu, tôi không biêt làm sao giải thích được. Càng nghĩ, càng thấy cái vị thế của người Việt Quốc gia sao nó vô cùng phức tạp. Chúng ta có chính nghĩa, chắc chắn là thế, nhưng chúng ta không có chính danh. Không có chính danh nên chúng ta dễ bị hiểu lầm, cuộc chiến đấu của chúng ta thiếu vắng đông minh, ít người hỗ trợ. Ấy là chưa nói đến những kẻ "thừa nước đục thả câu", chụp cho chúng ta những chiếc mũ bẩn nhơ, hoặc là gán cho chúng ta những niêm hiệu vô cùng thấp kém. Cổ nhân đã nói "danh bất chính tất ngôn bất thuận"... chúng ta ăn làm sao, nói làm sao bây giờ......"
- (Trích đoạn 2): ....... "Sau 1 ngày đến Hawaii, đêm 3 tháng 11.1969 tôi đã chú ý lắng nghe bài diễn văn hết sức quan trọng của Tổng thống Mỹ Nixon về đối sách mới của Mỹ về vấn đề VN. Đây là lần đầu tiên danh từ Việt Nam hóa Chiến tranh (Vietnamisation) được nhắc tới. Đây cũng là lần đầu tiên, kế hoạch rút quân cụ thể của Mỹ được đề ra. Như vậy là đòi hỏi của phe phản chiến đã được đáp ứng, yêu cầu rút quân của
của phe chống đối chiến tranh VN trong và ngoài nước Mỹ đã bước đầu thực hiện. Tổng thống Nixon đã cho thấy ý hướng giải kết của Mỹ rút chân ra khỏi chiến trường VN. Hai bên đang đọ sức, chiến cuộc đang hồi gay cấn, bỗng nhiên 1 bên đơn phương rút quân. Tuy trong bài diễn văn ông Nixon có nói đến vấn đề giám sát quốc tế, đến vấn đề tuyển cử tự do, nhưng đó là những chuyện có thể có mà cũng có thể không trong tương lai, còn chuyện rút quân là chuyện hoàn toàn có thực, do vị tổng thống đương nhiệm của Hoa Kỳ vừa công khai tuyên bố và sẽ được thi hành răng rắc trong những ngày sắp tới. Sự rút quân này được các nhà chính trị đặt cho 1 cái tên rất đẹp là "Việt Nam hóa Chiến tranh", nhưng thực tế nó là rút lui, là bỏ cuộc chứ còn gì nữa...."
- (Trích đoạn 3): ..... "Là 1 người lính nhưng tôi hiểu rằng chiến tranh nào cũng là 1 sự nối dài của chính trị (la guerre est une continuation de la politique - Clausewitz). Cuộc chiến này đâu phải là nội chiến mà chính là 1 cuộc đối đầu giữa 2 phe tư bản và cộng sản. Hai anh đầu sỏ Mỹ - Nga tuy có nhiều mâu thuẫn căn bản nhưng đâu dám đụng nhau. Đụng nhau là tận thế, là cùng xuống lỗ. Cho nên đế giải quyết tranh chấp 2 bên cần phải có những chỗ "xì hơi an toàn" (soupape de sécurité) cho thế giới. Việt Nam chiến tranh để cho thế giới an toàn. Hay nói 1 cách khác, Nam Việt (hay Bắc Việt) nhìn cho kỹ, chỉ là 1 con cờ di động trên bàn cờ quốc tế. Đã gọi là quân cờ thì chúng ta chỉ thụ động di chuyển theo bàn tay đặt để của người chơi, nước cờ nào đang chờ đợi chúng ta bây giờ đây?....."
- (Trích đoạn 4): ...... "Theo tài liệu mà tôi được đọc đâu đó, thì chính quyền Mỹ cũng chỉ là cơ quan thi hành. Những người đặt ra kế hoạch (policy maker) mà chính quyền Mỹ phải tuân theo luôn luôn nằm trong bóng tối. Người ta cho rằng Ủy ban Tối cao đặt ra kế hoạch nằm đâu ở Wall Street, dinh lũy của giới tài phiệt nắm trọn đầu mối kinh tế Hoa Kỳ. Một trong những bộ óc đặc biệt của Ủy ban Tối cao đặt ra kế hoạch được đưa ra cộng tác với chính quyền Mỹ hiện thời là H. Kissinger. Bây giờ (1969), H. Kissinger là cố vấn an ninh quốc gia cho Tổng thống Nixon. Trước đó H. Kissinger là cố vấn cho nhà tỉ phú Rockefeller.
Như vậy, đường hướng của chính phủ Mỹ đưa ra, nhất là dưới tay nhà chính khách lão luyện Nixon, ít khi nào sơ khoáng. Nó phải nhằm vào 1 mục tiêu nào đó. Nhưng với khả năng hạn hẹp của 1 nhà báo "chậm tiến" tại 1 nước nhược tiểu, tôi không tìm thấy lối ra. Tôi chỉ thấy trăm điều thua thiệt, đất nước tôi, quân đội tôi đành phải ngửa tay hứng chịu. Như 1 điều linh cảm, ngay từ năm 1969, sau khi nghe tin quân đội Mỹ chính thức rút khỏi VN khi cuộc chiến đang gay gắt, tôi thấy Mỹ bỏ cuộc rồi. ....."
- (Trích đoạn 5): ..... Mỹ đem hơn nửa triệu quân sang VN cùng bao nhiêu đơn vị quân đồng minh khác nữa, nhưng 1 số anh em trong quân đội chúng tôi không sao hiểu nổi phương thức hành quân của quân đội Mỹ. Quân đội Mỹ rất mạnh về vũ khí, rất cao về kỹ thuật, nhưng Mỹ hình như chỉ biểu diễn, chỉ trưng bày sức mạnh ấy mà không dùng nó để triệt tiêu kẻ địch. Trước khi ném bom xuống Bắc Việt, Mỹ báo trước sẽ oanh tạc từ vĩ tuyến nào. Ở trong Nam, hành quân "tìm và diệt" (search and destroy) thì trước khi xuất quân, đã cho phi cơ thám thính, cho phi pháo bắn tơi bời rồi mới tới. Hành quân kiểu này giống như đem 1 chiếc búa tạ đi đập 1 con ruồi. Mạnh thì rất mạnh nhưng ít khi nào trúng. Hay là như vậy mới thi hành đúng quan niệm đánh không cần thắng chăng? ....."
- (Trích đoạn 6): ..... "Phe Tân Tả (New Left) không những gần gũi nhau về lập trường, về đường lối hành động, mà còn rất gần nhau về tổ chức. Người ta nói rằng CBS, Newsweek, Washington Post đều do 1 nguồn "tư bản" mà ra. Nguồn tư bản, rất lớn, rất mạnh ở Wall Street, nắm đầu truyền thông do 1 số đại tài phiệt người Do Thái cầm đầu. Cộng đồng người Do Thái ở Mỹ không đông lắm nhưng thế lực không biêt đến đâu là cùng. Người Do Thái thường đứng đầu giới tài phiệt, đứng đầu giới học chính, và đứng đầu giới truyền thông. Vừa có tiền nhiều nhất (tài phiệt), vừa có thí khôn tốt nhất (học chính), vừa có tiếng nói to nhất (truyền thông) người Do Thái "nắn bóp thời cuộc" theo mô hình nào mà chẳng được. Thời gian ấy (1969), nước Do Thái nhỏ bé, bị vây quanh bởi bao nhiêu nước Ả Rập ở Trung Đông, đang phải gồng mình tự bảo vệ. Đã có mấy cuộc "thánh chiến" xảy ra. Trong tương lai, hàng trăm triệu người Ả Rập xung quanh có thể bất thần xua quân dìm luôn 3 triệu người Do Thái xuống biển. Vì vậy nên người Do Thái không muốn cho đồng minh chí cốt của họ là Mỹ lâm vào cảnh "nến cháy 2 đầu", vừa chi viện cho Do Thái, vừa tham chiến ở Việt Nam. Phải nên quên Việt Nam đi, để dành sức lo cho Do Thái. Đó là cái cớ tiềm ẩn nhưng hết sức mạnh mẽ khiến cho phe truyền thông Tân Tả ở Hoa Kỳ ra sức phỉ báng và chông đối cuộc chiến Việt Nam.
Điển hình cho tinh hoa Do Thái ở Hoa Kỳ là ông H. Kissinger. Ông là người Mỹ, gốc Đức, nhưng đích truyền Do Thái. Ông là tiến sĩ xuất thân tại trường Đại học danh tiếng nhất Hoa Kỳ Harvard. Ông trước đây là cố vấn cho tỉ phú Rockefeller. Bây giờ ông "xuất chính" làm Cố vấn An ninh Quốc gia cho Tổng thống Nixon. Như đã nói ông là người đặt ra kế hoạch đối ngoại Hoa Kỳ và trong tương lai không xa, theo những nguồn tin xác đáng, không phải ai khác, H. Kissinger sẽ đảm nhiệm chính chức vụ Ngoại trưởng Hoa Kỳ.
Đối với 1 Policy-maker như vậy, tôi không lấy làm ngạc nhiên lắm trước phong trào phản đối chiến tranh VN tại Mỹ. Đó là những sự dàn cảnh cần thiết cho sự giải kết, rút quân của Mỹ ở VN. Một tài liệu còn cho biết trước khi làm Cố vấn An ninh Quốc gia cho Tổng thống Nixon, ông H. Kissinger khi còn làm cố vấn không chính thức cho Tổng thống L. Johnson, đã bí mật liên lạc với Hà Nội qua 2 người Pháp Hervert Marcovich và Raymond Aubrac để giải quyết cuộc chiến VN theo chính sách "một khoảng thời gian coi được" (a decent interval). Có nghĩa là VNCH sẽ thua, phải thua trong 1 thời gian coi được, để Hoa Kỳ kịp rút quân, bỏ chạy... mặc cho VNCH xoay xở lấy 1 mình.
Đó là tiền đề cho vụ bức tử miền Nam những năm sau. ..."
- (Trích đoạn 7): ..... "Chỗ đứng của người Quốc gia sao mà phiền toái, lý do chiến đấu của người Quốc gia sao mà khó hiểu. Chỉ "nằm trong chăn mới biết chăn có rận mà thôi", người ngoài không hiểu được. Một điều đáng lo hơn nữa là đồng minh lớn Hoa Kỳ trong giai đoạn này đang đứng trước 1 khúc quanh quyết định. Đàn anh sẽ rẽ vào nẻo nào đây? Cái khó cho người quốc gia là không được biết ý định thật sự của đàn anh Mỹ như thế nào? Đánh không cần thắng, leo thang rồi tụt thang chiến tranh. Bây giờ Việt Nam hóa Chiến tranh và giải kết. Tương lai 1 nước nhược tiểu đánh bạn với Hoa Kỳ sao mà vất vả, không biết đi về đâu?
Tôi nhớ đâu đó một lời nhận định
"làm kẻ thù của Huê Kỳ thì "khá", còn làm bạn với Huê Kỳ thì khốn nạn"."
(Ngưng trích)
Phan Lạc Phúc
Mùa thu 2000
=> Tiếp theo là bài nhận định ký tên Vô Danh - viết vào tháng 4 năm 2026. Bài này được lấy ra từ mục "Bài khách - Vô Danh 4" trong "Diễn Đàn Trái Chiều" Bài 433 thứ sáu 10 tháng 4 năm 2026 của đàn chủ Vũ Linh:
TẠI SAO CỘNG ĐỒNG TỴ NẠN KHÔNG THỂ QUÊN AI ĐÃ CỨU MÌNH VÀ AI ĐÃ BỎ RƠI MÌNH
“Kết thúc một cuộc xung đột không đơn giản chỉ là gọi nó lại và về nhà.
Vì cái giá của loại hòa bình đó có thể là một ngàn năm bóng tối.”
( Ronald Reagan, A Time for Choosing, 1964)
Tôi viết những dòng này không phải bằng mực, mà bằng máu của ký ức. Máu của những người lính miền Nam VNCH chết không phải vì hèn nhát mà vì hết đạn. Máu của những bà mẹ ôm con nhảy xuống biển và không bao giờ nổi lên. Máu của những người cha gầy trơ xương trong trại tù Cộng sản, chết trong im lặng, không một dòng cáo phó. Tôi không viết để gieo hận thù. Tôi viết vì sự thật đang bị lãng quên, và khi sự thật bị lãng quên, thì những người đã chết sẽ chết lần thứ hai.
Năm 1964, Ronald Reagan đứng trước cả nước Mỹ và nói một câu mà lịch sử sẽ chứng minh là lời tiên tri: “Kết thúc một cuộc xung đột không đơn giản chỉ là gọi nó lại và về nhà. Vì cái giá của loại hòa bình đó có thể là một ngàn năm bóng tối.”
Mười một năm sau, nước Mỹ làm đúng điều Reagan khuyến cáo: gọi cuộc chiến lại và về nhà. Và bóng tối phủ xuống Việt Nam — chưa đủ một ngàn năm, nhưng đủ lâu để hàng triệu người chết, hàng triệu người bị bỏ tù, và hàng triệu người phải rời bỏ quê hương mãi mãi. Câu hỏi mà bài viết này đặt ra rất đơn giản: ai đã gây ra bóng tối ấy, và ai đã thắp lên ngọn nến?
- NHÁT DAO ĐẦU TIÊN: VỤ LẬT ĐỔ TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM
Hãy quay về Sài Gòn, mùa thu năm 1963. Ngô Đình Diệm — con người đã nhận một miền Nam hoang tàn sau Hiệp định Geneva 1954 và xây dựng nó thành một quốc gia có chủ quyền giữa vòng vây của du kích Cộng sản — đang điều hành một đất nước non trẻ trong vỏn vẹn 9 năm , tuy chưa hoàn hảo nhưng đang đứng vững. Ông đã làm được điều mà ngay cả chính tổng thống Dwight D. Eisenhower đã phải thốt lên: “Người tạo nên kỳ tích của châu Á” (“Miracle man of Asia”).
Có thể trong mắt 1 số người, Tổng thống Ngô Đình Diệm không phải thánh nhân. Nhưng ông là đồng minh của Mỹ. Và đồng minh, trong mọi luật chơi của quan hệ quốc tế, không phải để giết
Nhưng chính quyền của tổng thống đảng Dân Chủ John F. Kennedy lại nghĩ khác. Ngày 24 tháng 8 năm 1963, một bức điện tín từ Bộ Ngoại giao Mỹ — cáp điện DEPTEL 243, sáu chữ số sẽ khắc vĩnh viễn vào lịch sử như vết dao không bao giờ lành — được gửi tới Sài Gòn, bật đèn xanh cho các tướng lĩnh Việt Nam đã được Mỹ mua chuộc bằng tiền: Washington sẽ không cản đảo chánh.
Đại sứ Henry Cabot Lodge Jr. thực thi mệnh lệnh với sự nhiệt tình mà sau này chính những người ra lệnh phải hối hận. Ngày 2 tháng 11 năm 1963, Tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu bị giết trong xe thiết giáp. Một vị tổng thống đồng minh bị chính đồng minh của mình giết. Và ba tuần sau, John Kennedy cũng bị giết tại Dallas — và như thể lịch sử có cách riêng để trả lại món nợ.
Hậu quả của cuộc lật đổ ấy là cơn hồng thủy chính trị: bảy cuộc đảo chính liên tiếp trong hai năm, miền Nam rơi vào hỗn loạn, và chính sự hỗn loạn ấy cho phép chính quyền Dân Chủ tiếp theo — Lyndon B. Johnson — đổ nửa triệu quân Mỹ vào Việt Nam năm 1965 với Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ — dựa trên một sự kiện mà lịch sử xác nhận đã bị phóng đại và bóp méo. Xin hãy nghe kỹ lôgic tàn nhẫn này: họ giết nhà lãnh đạo đồng minh, tạo khoảng trống quyền lực, rồi dùng chính khoảng trống ấy để đổ quân vào. Hơn 58.000 quân nhân Mỹ và hàng triệu người Việt chết trong cuộc chiến mà đảng Dân Chủ khởi động nhưng không có chiến lược kết thúc. Đây là nhát dao đầu tiên.
- NHÁT DAO THỨ 2: JOHN KERRY VÀ LỜI PHẢN BỘI TRƯỚC QUỐC HỘI
Nếu vụ lật đổ tổng thống Ngô Đình Diệm là nhát dao chém vào đầu, thì lời điều trần của John Kerry ngày 22 tháng 4 năm 1971 trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện là nhát dao xóay trong vết thương còn đang rỉ máu. Hãy hình dung khung cảnh: một chàng trai 27 tuổi, mặc quân phục, đeo huy chương Silver Star và ba Purple Hearts, ngồi trước ống kính truyền hình quốc gia và nói với cả nước Mỹ rằng những người lính đồng đội của anh ta — và, bằng nghĩa mở rộng, những người lính đồng minh miền Nam — là những kẻ “hiếp dâm, cắt tai, cắt đầu, dùng dây điện gắn vào cơ quan sinh dục, tàn phá làng mạc theo kiểu Thành Cát Tư Hãn.”
Hãy để những lời ấy lắng xuống trong lòng bạn một giây. John Kerry so sánh những người lính Mỹ và đồng minh Việt Nam với kẻ xua quân tàn sát khắp lục địa với Thành Cát Tư Hãn. Và cả nước Mỹ xem. Và cả thế giới nghe. Và Hà Nội — Hà Nội đặc biệt ghi nhận, cất giữ, và sử dụng từng lời của Kerry như đạn dược tuyên truyền trong suốt những năm còn lại của cuộc chiến. Người lính Việt Nam Cộng Hòa — người đã bỏ lại vợ con để vào sinh ra tử, người mà sau này sẽ chết trong trại tù cộng sản hoặc chìm dưới đáy biển Đông — bị Kerry gộp chung vào bức tranh tội ác mà không một lời phân biệt, không một chút công bằng, không một giọt đồng cảm.
Nhưng điều đau đớn hơn cả lời nói là hậu quả. Kerry không chỉ nói — ông tạo ra môi trường. Ông giúp biến cuộc chiến tranh Việt Nam thành vết nhơ trong lương tâm Mỹ, và từ vết nhơ ấy, Quốc Hội Đảng Dân Chủ có cơ sở đạo đức để cắt viện trợ, bỏ rơi đồng minh, và rửa tay khỏi máu của hàng triệu người. Và để nghịch lý lên đến đỉnh điểm: năm 2004, chính Kerry ra tranh cử tổng thống với tư cách ứng viên Đảng Dân Chủ, dùng kinh nghiệm Việt Nam làm vốn chính trị. Rồi với tư cách Ngoại trưởng dưới thời tổng thống Obama, Kerry tiếp tục xích lại gần Hà Nội, nâng cấp quan hệ song phương, và không bao giờ — không một lần — đặt nhân quyền làm điều kiện tiên quyết. Người phản bội người lính đồng minh năm 1971 giờ ôm hôn chế độ đã bỏ tù chính những người lính ấy. Phản bội kép. Và cả hai lần đều dưới ngọn cờ Dân Chủ.
- NHÁT DAO THỨ BA: CẮT VIỆN TRỢ VÀ THÁNG TƯ ĐEN
Năm 1973, Tổng thống Cộng Hòa Richard Nixon ký Hiệp định Hòa bình Paris, kèm theo một lời hứa — lời hứa của cường quốc số một thế giới với một quốc gia nhỏ bé đã đổ máu suốt hai mươi năm vì niềm tin của Mỹ: chúng tôi sẽ tiếp tục viện trợ. Các bạn sẽ không bị bỏ rơi.
Lời hứa ấy bị phản bội ngay trước mắt những người đã tin. Tu Chính Án Case-Church năm 1973, do hai nghị sĩ Dân Chủ chủ xướng, cấm mọi hành động quân sự của Mỹ tại Đông Dương. Rồi Quốc Hội Dân Chủ ra tay nghiền nát: viện trợ cho miền Nam bị cắt từ 1,4 tỷ đô la xuống 700 triệu, rồi xuống 300 triệu — trong khi Liên Xô và Trung Quốc đổ vũ khí cho Bắc Việt như nước sông. Quân đội miền Nam không còn đạn để bắn, không còn nhiên liệu để chạy xe, không còn phụ tùng để sửa máy bay. Họ chiến đấu bằng tay không chống lại đạo quân được trang bị tận răng. Và họ thua. Không phải vì họ hèn. Mà vì họ bị phản bội.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, xe tăng Bắc Việt húc đổ cổng Dinh Độc Lập. Một quốc gia biến mất. Hàng triệu người bị đưa vào trại tù “cải tạo” cái tên thật khốn nạn dành cho trại tù của Cộng sản — làm việc khổ sai, bị đánh đập, bị bỏ đói, nhiều người chết trong im lặng. Hàng trăm ngàn người liều mạng ra biển trên những chiếc thuyền mỏng manh, và biển Đông trở thành nghĩa trang không bia mộ lớn nhất thế kỉ 20. Lời tiên tri của Reagan thành hiện thực: bóng tối đã phủ xuống Việt Nam. Và những người tắt đèn chính là Quốc Hội do Đảng Dân Chủ nắm quyền.
- NHÁT DAO THỨ TƯ: BIDEN VÀ CÂU NÓI MÀ NGƯỜI VIỆT KHÔNG BAO GIỜ QUÊN
Trong những giờ phút tăm tối nhất ấy, khi Sài Gòn đang hấp hối và Tổng thống Cộng Hòa Gerald Ford cầu xin Quốc Hội bật đèn xanh cho lệnh di tản, có một giọng nói trẻ trung và lạnh lùng vang lên trong Toà Bạch Ốc ngày 14 tháng 4 năm 1975. Đó là giọng của Thượng nghị sĩ Joe Biden, 32 tuổi. Và ông nói:
“Tôi sẽ bỏ phiếu cho bất kỳ khoản nào để đưa người Mỹ ra. NHƯNG —Tôi không muốn gộp chung với việc đưa người Việt ra.”
Hãy đọc lại câu ấy. Chậm. Từng. Chữ. Một. “Tôi không muốn gộp chung việc đưa người Việt ra.” Trong khi hàng trăm ngàn người đã làm việc cho Mỹ — phiên dịch, tài xế, nhân viên, quân nhân đồng minh — đang run rẩy chờ chết dưới họng súng Bắc Việt. Joe Biden còn nói:
“Hoa Kỳ không có nghĩa vụ, về đạo đức hay gì khác, để di tản công dân nước ngoài” và
“Hoa Kỳ không có nghĩa vụ di tản một — hoặc 100.001 — người miền Nam Việt Nam.”
Không có nghĩa vụ đạo đức. Với những người đã đổ máu vì tin Mỹ.
Nhưng Gerald Ford — một tổng thống Cộng Hòa không được bầu, không có chỉ lệnh của nhân dân, nhưng có lương tâm — đã nói “có.” Ông bất chấp Biden. Bất chấp Quốc Hội Dân Chủ. Bất chấp dư luận mệt mỏi chiến tranh. Và ông ra lệnh di tản. 130.000 người Việt được đưa đến Mỹ an toàn. 130.000 cuộc đời mà Biden muốn bỏ lại. Hãy tự hỏi: bạn, hoặc cha mẹ bạn, hoặc ông bà bạn, có nằm trong 130.000 người ấy không?
- NHÁT DAO THỨ NĂM: BILL CLINTON VÀ CHIẾC PHAO CỬU MẠNG CHO CHÍNH QUYỀN HẤP HỐI
Xin hãy theo tôi quay về đầu thập niên 1990 — một trong những khoảnh khắc quan trọng nhất trong lịch sử Việt Nam mà ít người nhận ra. Liên Xô vừa sụp đổ, cuốn theo nguồn viện trợ sống còn của Hà Nội. Nền kinh tế Việt Nam kiệt quệ. Lạm phát phi mã tới 700%. Người dân đói khổ. Cán bộ cộng sản tìm đường tẩu tán tài sản bỏ đi ra hải ngoại. Bộ máy đảng lung lay. Chế độ Cộng sản Việt Nam đang ở đúng nơi mà Liên Xô, Đông Đức, Ba Lan, Rumani đã đứng trước khi sụp: bên bờ vực thẳm. Cấm vận của Mỹ là cái thòng lọng đang siết chặt cổ họng một chế độ đã hết ợ dựa. Lịch sử đang mở một cánh cửa — cánh cửa mà, nếu Mỹ giữ vững áp lực, có thể dẫn đến sự sụp đổ của chế độ và tự do cho tám mươi triệu con người.
Tổng thống đảng Dân Chủ Bill Clinton đóng sập cánh cửa ấy. Năm 1994, ông bỏ cấm vận thương mại. Năm 1995, ông bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hà Nội. Năm 2000, ông bay đến Hà Nội — vị tổng thống Mỹ đầu tiên đặt chân lên đất Việt Nam kể từ chiến tranh — và bắt tay với những người đã giết 58.000 quân nhân Mỹ, những người vẫn đang giam cầm tư tưởng, đàn áp tôn giáo, và cưỡng chế đất đai của dân. Clinton thả chiếc phao cứu mạng xuống giữa lúc chế độ đang chìm. Dòng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào. Thương mại mở ra. Và đảng Cộng sản — với bộ máy đàn áp vẫn nguyên — được tiêm máu mới để sống thêm ba thập niên.
Clinton và những người ủng hộ ông nói rằng bình thường hóa sẽ “mở cửa tự do.” Ba mươi năm sau, hãy kiểm kê: cửa tự do ở đâu? Việt Nam năm 2026 vẫn là nhà nước độc đảng. Người bất đồng chính kiến vẫn bị bỏ tù. Truyền thông vẫn bị kiểm soát. Tôn giáo vẫn bị sách nhiễu. Đất đai vẫn bị cưỡng chế. Nhưng đảng Cộng sản thì giàu lên, quan chức thì xây biệt phủ, con cái họ thì du học ở Mỹ, và hệ thống độc tài thì vững chắc hơn bao giờ hết — tất cả nhờ chiếc phao mà một tổng thống Dân Chủ đã quăng xuống. Bình thường hóa không giải phóng người dân Việt — nó giải phóng chế độ khỏi sự sụp đổ.
- NGỌN NỀN GIỬA BÓNG TỐI: FORD VÀ REAGAN
Giữa bức tranh đen tối ấy, hai vị tổng thống đảng Cộng Hòa nổi lên như những ngọn nến mà gió không dập tắt được.
Gerald Ford — tổng thống không ai bầu, không có chỉ lệnh của nhân dân, không có vốn chính trị để đốt, nhưng có một thứ mà tổng thống đảng Dân Chủ Joe Biden không có: lương tâm. Ông đứng lên trước Quốc Hội đang nói “không,” trước dư luận đang mệt mỏi, trước các cuộc thăm dò đang chống, và ông ra lệnh di tản. 130.000 người Việt được đưa đến Mỹ.
Julia Taft, người phụ trách tái định cư, nói với NPR: “Họ là phiên dịch, là nhân viên, là một phần của quân đội đồng minh. Lẽ ra họ phải được giúp đỡ.” Và Ford đã giúp.
Rồi đến Ronald Reagan — người mà với người Việt tỵ nạn, tên ông gắn liền với hai chữ: hồng ân. Năm 1984, Ngoại trưởng Shultz tuyên bố trước Quốc Hội rằng Mỹ sẵn sàng nhận tới 10.000 tù nhân chính trị. Năm 1987, Nghị quyết 205 và 212 tạo khung pháp lý cho chương trình Nhân đạo. Ngày 30 tháng 7 năm 1989, dưới thời Bush cha, hiệp định HO được ký. Và cánh cửa tự do mở ra cho 180.000 cựu tù nhân cải tạo và gia đình — những người đã chịu tra tấn, lao động khổ sai, và mất mát không thể đo đếm. Trong bài Diễn văn Chia tay ngày 11 tháng 1 năm 1989, Reagan nhắc nhở nước Mỹ về nghĩa vụ đối với người tỵ nạn Việt Nam — ông không nói suông như Clinton, ông hành động. Và 180.000 cuộc đời được cứu là bằng chứng.
Nhiều gia đình Việt tại Mỹ ngày nay — những gia đình HO — không biết rằng sự tồn tại của họ trên đất Mỹ bắt nguồn từ một quyết định của Reagan. Con cái họ học trường Mỹ, đậu đại học Mỹ, làm bác sĩ kỹ sư luật sư tại Mỹ — tất cả bắt đầu từ một tổng thống Cộng Hòa đã nghĩ đến họ khi không ai khác buồn nghĩ. Đây không phải lý thuyết chính trị. Đây là lịch sử gia đình. Và lịch sử gia đình không nên bị quên bởi bất kỳ chiến dịch vận động nào.
LÁ PHIẾU LÀ KÝ ỨC, VÀ KÝ ỨC LÀ MÓN NỢ KHÔNG THỂ QUÊN
Tôi đã dẫn bạn đi qua sáu mươi năm lịch sử. Sáu mươi năm máu và nước mắt. Và mô hình lặp đi lặp lại với sự tàn nhẫn của máy đồng hồ: đảng Dân Chủ giết đồng minh, đổ quân không kế hoạch, Kerry phản bội người lính, Quốc Hội cắt viện trợ, Biden nói “không có nghĩa vụ,” Clinton thả phao cứu chế độ đã giam cầm chính chúng ta. Trong khi Ford cứu 130.000 người. Reagan mở cửa cho 180.000 tù nhân. Đây không phải tình cờ. Đây là lịch sử.
Mỗi lá phiếu của người Việt tỵ nạn không chỉ là lựa chọn chính trị. Nó là hành động ký ức. Là câu trả lời cho câu hỏi mà cha ông chúng ta đã trả bằng máu: bạn có nhớ ai đã cứu mình không, và bạn có nhớ ai đã bỏ rơi mình không?
Reagan đã nói: "Cái giá của loại hòa bình dễ dãi là một ngàn năm bóng tối".
Người Việt đã và đang sống trong bóng tối ấy. Và lá phiếu chính là cách duy nhất để bóng tối không quay lại — cho Việt Nam, cho nước Mỹ, và cho những đứa trẻ mà cha ông đã liều mạng vượt biển để chuyển giao cho chúng một điều duy nhất: TỰ DO.
Lá phiếu là ký ức. Ký ức là món nợ. Và món nợ, đối với người Việt tỵ nạn, là điều thiêng liêng mà Tháng Tư Đen 1975 không bao giờ cướp được.
Vô Danh
Tháng Tư 2026